"Cô nương không sao chứ?" Ngu Duyệt ân cần lặp lại câu hỏi.
"Không, không sao." Thiếu nữ vẫn còn đang bần thần vì vụ nhận nhầm người ban nãy, lắp bắp đáp lời: "Đa tạ cô nương đã ra tay tương trợ."
Tuy khuôn mặt lấm lem bùn đất, búi tóc cũng rối bời, nhưng không khó để nhận ra nàng ấy sở hữu dung mạo ôn nhu thanh tú, hệt như một nụ hoa trắng muốt thuần khiết.
Ngu Duyệt bèn hỏi: "Cô nương là tiểu thư nhà nào vậy?"
"Phụ thân ta là Hình Bộ Thượng thư, ta là thứ nữ trong nhà, tên Trác Quân." Kinh Trác Quân ngoan ngoãn đáp lời.
Ngu Duyệt gật gù ra vẻ đã hiểu, nhưng thực chất trong đầu chẳng có chút ấn tượng nào.
Kinh Thượng thư vốn làm người cương trực, bình thường sống khá khép kín, chưa từng dính phải tai tiếng gì. Nàng chỉ rành mấy gia tộc từng làm khuynh đảo kinh thành thôi.
Kinh Trác Quân e dè ngước nhìn Ngu Duyệt, trong ánh mắt vẫn hiện lên vẻ thẹn thùng. Mọi tâm tư đều viết cả lên mặt khiến Ngu Duyệt cũng đâm ra ngượng ngùng, cảm giác mình cứ như tên phụ tình vừa mới chiếm tiện nghi của người ta vậy.
Thấy sắc mặt Ngu Duyệt biến đổi liên tục, chần chừ mãi nàng ta mới dám hé môi hỏi nhỏ: "Cô nương là tiểu thư nhà nào vậy?"
Ngu Duyệt chớp chớp mắt, bắt chước cách xưng hô vừa nãy của nàng ta: "Phụ thân ta là Định Quốc Công, nhà chỉ có độc mỗi mình ta là nữ nhi, một chữ Duyệt."
Kinh Trác Quân ngẫm nghĩ một chốc, khẽ che miệng nhỏ, đôi mắt mở to ngỡ ngàng: "Vậy chẳng phải là... Thụy Vương phi sao?"
Ngu Duyệt mỉm cười gật đầu. Kinh Trác Quân vội vàng thi lễ: "Bái kiến Thụy Vương phi, vừa nãy ta không biết thân phận của người, đã có phần mạo phạm."
Cô nương này cũng quá nề nếp rồi, ở dưới hố mà vẫn không quên hành lễ. Nàng vươn tay đỡ Kinh Trác Quân dậy: "Không cần đa lễ, chúng ta mau tìm cách ra khỏi cái hố này trước đã."
Ngu Duyệt ngẩng đầu ngó lên trên, thầm tính toán tìm chỗ mượn lực để dùng khinh công bay lên. Ngay lúc ấy, mép hố thò ra bốn cái đầu.
"Ái chà, ai đây nhỉ? Sao lại chui rúc ở dưới này thế kia?" Một giọng nói chói tai, chua loét vang lên.
Bấy giờ Ngu Duyệt mới ngộ ra mọi chuyện, thì ra cái đứa khốn kiếp táng tận lương tâm đó chính là Hòa Mẫn, còn tiểu cô nương đáng thương Kinh Trác Quân này xui xẻo lẽo đẽo theo sau nên mới lọt hố oan uổng.
Tâm địa thật thâm độc!Cái hố sâu thế này, rơi xuống có gãy chân gãy tay hay không chưa bàn, nhỡ đâu là một cô nương không biết võ công, lỡ không ai phát hiện thì rất có khả năng sẽ bỏ mạng dưới vuốt thú dữ.
Nàng hừ lạnh một tiếng, ánh mắt trở nên sắc lẹm: "Hòa Mẫn, ngươi có biết bản thân đang rắp tâm hãm hại Thân Vương phi của triều Đại Sóc không?"
"Ủa? Ta làm gì chứ?" Ngoài mặt Hòa Mẫn làm bộ ngây thơ vô tội, nhưng điệu bộ lại vô cùng kênh kiệu. Nàng ta quay sang hỏi han đám bạn đi cùng: "Ngươi? Ngươi có thấy không? Hay là ngươi thấy?"
Ba tỷ muội đồng bạn lắc đầu quầy quậy như trống bỏi, Hòa Mẫn lại càng được thể lên mặt: "Chỗ này thi thoảng lại có sài lang hổ báo lảng vảng, ta sợ lắm, ta đi trước đây."
Nghe nàng ta nói vậy, Kinh Trác Quân kinh hãi lùi lại vài bước, lọt vào tầm mắt của Hòa Mẫn. Nãy giờ nàng ấy đứng nép sát vách hố, góc nhìn của Hòa Mẫn vốn dĩ không hề thấy nàng ấy, xém chút nàng ta quên mất Ngu Duyệt vì cứu người nên mới sập bẫy.
Hòa Mẫn nheo mắt nhìn xem người vừa lên tiếng là ai, nhìn rõ mặt rồi liền sầm mặt xuống: "Kinh Nhị! Sao ngươi lại ở đây?"
Kinh Trác Quân có lẽ cũng lờ mờ đoán được nguyên do, bừng bừng lửa giận trừng mắt nhìn Hòa Mẫn, giọng nói cũng trở nên cứng cỏi: "Cổ nhân có câu, quân tử hành sự quang minh chính đại, chốn tối tăm mờ ám cũng chẳng dối lòng. Hòa Mẫn Huyện chủ lại dùng thủ đoạn hèn hạ, giăng bẫy mưu hại tính mạng người khác ở đây, bất chấp luân thường đạo lý, đi ngược với lẽ phải. Hơn nữa ngươi không sợ bệ hạ biết được sẽ giáng tội sao?"
Nhắc đến kẻ khiến Hòa Mẫn gai mắt nhất kinh thành, không ai khác ngoài Kinh Trác Quân.
Đặc biệt là cái mồm mép của nàng ấy, suốt ngày ra rả "cổ nhân có câu": "tục ngữ nói", nghe mà nhức cả đầu, cứ làm như mình mình có học vậy.
Hòa Mẫn nghe nàng ấy lại mở mồm "cổ nhân có câu" thì cục tức nghẹn ngang họng, bao ân oán cũ ùa về, lột sạch lớp ngụy trang đoan trang, nàng ta gắt gỏng gào lên: "Kinh Nhị, ngươi thật rảnh rỗi quá! Ngoài chuyện đi mách lẻo ra thì làm được cái tích sự gì!"
Nhiều năm về trước, khi bọn họ vẫn còn là những đứa trẻ, Tuyên Văn Đế từng cử hành một buổi đại lễ tế thiên quy mô lớn. Các quý tộc, quan thần trong triều đều được mời tới, mang theo gia quyến tới ngôi đạo quán mới xây cất để cầu cho Đại Sóc mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.
Lần đầu tiên được tham gia tế lễ, Hòa Mẫn phấn khích tột độ. Vốn được nuông chiều từ bé, nàng ta đâu chịu ngoan ngoãn nghe lời căn dặn không được chạy nhảy đụng chạm lung tung. Tính ngỗ nghịch trỗi dậy, nhân lúc mọi người đang cúi đầu, nàng ta lén đưa tay sờ soạng chiếc ngọc khuê, chẳng ngờ lỡ tay làm rơi vỡ.
Tế khí vỡ nát vốn là điềm chẳng lành, Tuyên Văn Đế phẫn nộ vô cùng, gặng hỏi xem kẻ nào to gan gây ra chuyện. Cả đám người có mặt, kẻ nhắm mắt làm ngơ, người tận mắt chứng kiến cũng vì kiêng dè Văn An Quận chúa mà chẳng dám ho he nửa lời.
Duy chỉ có Kinh Trác Quân vốn bảo thủ, khuôn phép lại dũng cảm đứng ra, bằng giọng nói non nớt của trẻ con mà chỉ đích danh Hòa Mẫn.
Hòa Mẫn tức điên người, vung tay định tát nàng ấy, nhưng nàng ấy vẫn kiên cường đứng im phăng phắc, đến mắt cũng không thèm chớp lấy một cái.
Mãi đến khi Tuyên Văn Đế định phạt Hòa Mẫn, nàng ta mới biết sợ, cố tình lôi Kinh Trác Quân xuống bùn cùng, khóc lóc bù lu bù loa bảo chính Kinh Trác Quân cố ý đẩy nàng ta nên mới lỡ tay làm vỡ ngọc khuê.
Lời dối trá rành rành ấy sao qua mắt được Tuyên Văn Đế, ông ta lập tức phạt Hòa Mẫn cấm túc nửa năm, suốt thời gian đó ngày ngày phải chép kinh Phật dâng lên đạo quán.
Hòa Mẫn khi ấy còn chưa đọc sõi chữ trên kinh thư, ngày ngày hễ mở mắt ra là phải cặm cụi tô đi vẽ lại từng chữ kinh Phật, chép đến mức phát điên. Nàng ta vừa khóc vừa chép, càng chép càng hận Kinh Trác Quân, hận cái thói lắm mồm, hận cái tật thích xen vào chuyện bao đồng của nàng ấy.